4 Đề thi vào Lớp 6 môn Tiếng Việt trường Nguyễn Tri Phương - Huế 2022-2025 (Có đáp án)
Câu 1 (1,5 điểm). Đọc đoạn văn sau và thực hiện theo yêu cầu:
(1) Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trắng mênh mông. (2) Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác tận đâu cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi. (3) Suốt ngày, họ cãi cọ om sòm bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một mồi tép. (4) Có những anh Cò gầy vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ, chẳng được miếng nào.
(Theo Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí, NXB Kim Đồng, 2017, tr.15, 16)
a) Nước trên những hồ ao quanh bãi được tác giả miêu tả như thế nào?
b) Trong đoạn văn, những loài chim nào bay về vùng nước mới để kiếm mồi?
c) Xác định đại từ có trong câu (3) của đoạn văn trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của dấu gạch ngang trong câu văn sau:
Cái Tết ở đảo thường là cái Tết đáng nhớ đối với mỗi người lính Trường Sa - những người đã phải xa gia đình để chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc.
(Nguyễn Xuân Thuỷ, Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa, NXB Kim Đồng, 2016, tr.50)
Câu 3 (1,5 điểm). Đọc câu văn sau và thực hiện theo yêu cầu:
Trời đang râm, mặt trời e ấp nấp sau tầng mây xám dày cộp, những tia nắng như được lọc qua sàng, thưa thớt rơi rớt xuống đất.
(Theo Ân Kiện Linh, Ngọc Khánh dịch, Trên những bánh xe, NXB Kim Đồng, 2021, tr.18)
a) Xác định các vế câu trong câu ghép trên.
b) Trong câu trên, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ gì? Chi tiết nào thể hiện điều đó?
Câu 4 (1,0 điểm). Tìm và ghi lại các kết từ, cặp kết từ có trong câu văn sau:
Hồ Tây không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông, quanh năm dập dềnh, lượn sóng mà còn mang vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc hồng thơm ngát của hoa sen, sắc tím của hoa bằng lăng hay vẻ rực rỡ của những cánh phượng hồng mỗi độ hè về.
(Lam Phương, Hồ Tây, nét chấm phá đầy thi vị giữa lòng thủ đô)
Tóm tắt nội dung tài liệu: 4 Đề thi vào Lớp 6 môn Tiếng Việt trường Nguyễn Tri Phương - Huế 2022-2025 (Có đáp án)
ĐỀ SỐ 1 ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC VÀO LỚP 6 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2025-2026 THỪA THIÊN HUẾ MÔN: TIẾNG VIỆT TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRI PHƯƠNG Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT (5,0 điểm) Câu 1 (1,5 điểm). Đọc đoạn văn sau và thực hiện theo yêu cầu: (1) Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trắng mênh mông. (2) Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác tận đâu cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi. (3) Suốt ngày, họ cãi cọ om sòm bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một mồi tép. (4) Có những anh Cò gầy vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ, chẳng được miếng nào. (Theo Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí, NXB Kim Đồng, 2017, tr.15, 16) a) Nước trên những hồ ao quanh bãi được tác giả miêu tả như thế nào? b) Trong đoạn văn, những loài chim nào bay về vùng nước mới để kiếm mồi? c) Xác định đại từ có trong câu (3) của đoạn văn trên. Câu 2 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của dấu gạch ngang trong câu văn sau: Cái Tết ở đảo thường là cái Tết đáng nhớ đối với mỗi người lính Trường Sa - những người đã phải xa gia đình để chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc. (Nguyễn Xuân Thuỷ, Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa, NXB Kim Đồng, 2016, tr.50) Câu 3 (1,5 điểm). Đọc câu văn sau và thực hiện theo yêu cầu: Trời đang râm, mặt trời e ấp nấp sau tầng mây xám dày cộp, những tia nắng như được lọc qua sàng, thưa thớt rơi rớt xuống đất. (Theo Ân Kiện Linh, Ngọc Khánh dịch, Trên những bánh xe, NXB Kim Đồng, 2021, tr.18) a) Xác định các vế câu trong câu ghép trên. b) Trong câu trên, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ gì? Chi tiết nào thể hiện điều đó? Câu 4 (1,0 điểm). Tìm và ghi lại các kết từ, cặp kết từ có trong câu văn sau: Hồ Tây không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông, quanh năm dập dềnh, lượn sóng mà còn mang vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc hồng thơm ngát của hoa sen, sắc tím của hoa bằng lăng hay vẻ rực rỡ của những cánh phượng hồng mỗi độ hè về. (Lam Phương, Hồ Tây, nét chấm phá đầy thi vị giữa lòng thủ đô) II. VIẾT (5,0 điểm) Mùa hè là một bức tranh rực rỡ, được vẽ nên bởi màu đỏ của hoa phượng, âm thanh râm ran của tiếng ve cùng với những ước mơ, dự định của các cô cậu học trò,... Em hãy viết một đoạn văn nói lên những cảm xúc của mình mỗi khi mùa hè đến. ---HẾT--- HƯỚNG DẪN GIẢI I. ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT (5,0 điểm) Câu 1 (1,5 điểm). Đọc đoạn văn sau và thực hiện theo yêu cầu: (1) Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trắng mênh mông. (2) Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác tận đâu cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi. (3) Suốt ngày, họ cãi cọ om sòm bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một mồi tép. (4) Có những anh Cò gầy vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ, chẳng được miếng nào. (Theo Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí, NXB Kim Đồng, 2017, tr.15, 16) a) Nước trên những hồ ao quanh bãi được tác giả miêu tả như thế nào? b) Trong đoạn văn, những loài chim nào bay về vùng nước mới để kiếm mồi? c) Xác định đại từ có trong câu (3) của đoạn văn trên. Phương pháp giải: a) Em đọc câu (1) để trả lời câu hỏi. b) Em đọc câu (2) để trả lời câu hỏi. c) Em nhớ lại về đại từ để xác định đại từ có trong câu (3). Lời giải chi tiết: a) Nước trên những hồ ao quanh bãi được tác giả miêu tả là “dâng trắng mênh mông”. b) Những loài chim bay về vùng nước mới để kiếm mồi là: cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két. c) Đại từ có trong câu (3) là “họ” thay thế cho các loài chim đã nêu ở câu (2). Câu 2 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của dấu gạch ngang trong câu văn sau: Cái Tết ở đảo thường là cái Tết đáng nhớ đối với mỗi người lính Trường Sa - những người đã phải xa gia đình để chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc. Phương pháp giải: Em xác định vị trí và nhớ lại tác dụng của dấu gạch ngang Lời giải chi tiết: Dấu gạch ngang trong câu có tác dụng để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích cho cụm từ “mỗi người lính Trường Sa” là “những người đã phải xa gia đình để chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc”. Câu 3 (1,5 điểm). Đọc câu văn sau và thực hiện theo yêu cầu: Trời đang râm, mặt trời e ấp nấp sau tầng mây xám dày cộp, những tia nắng như được lọc qua sàng, thưa thớt rơi rớt xuống đất. (Theo Ân Kiện Linh, Ngọc Khánh dịch, Trên những bánh xe, NXB Kim Đồng, 2021, tr.18) a) Xác định các vế câu trong câu ghép trên. b) Trong câu trên, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ gì? Chi tiết nào thể hiện điều đó? Phương pháp giải: a) Em xác định các thành phần câu để tìm các vế câu. b) Em nhớ lại các biện pháp tu từ và dựa vào từ ngữ, nội dung câu để xác định biện pháp tu từ. Lời giải chi tiết: a) Trời (CN1) / đang râm (VN1), mặt trời e ấp (CN2) / nấp sau tầng mây xám dày cộp (VN2), những tia nắng (CN3) / như được lọc qua sàng, thưa thớt rơi rớt xuống đất (VN3). Câu ghép có 3 vế câu: - Vế 1: Trời đang râm - Vế 2: mặt trời e ấp nấp sau tầng mây xám dày cộp - Vế 3: những tia nắng như được lọc qua sàng, thưa thớt rơi rớt xuống đất b) Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh. - Nhân hóa: “mặt trời e ấp nấp” gợi hình ảnh mặt trời như một cô gái đang thẹn thùng. - So sánh: “những tia nắng như được lọc qua sàng” gợi hình ảnh tia nắng thưa thớt như ánh sáng được lọc qua sàng. Câu 4 (1,0 điểm). Tìm và ghi lại các kết từ, cặp kết từ có trong câu văn sau: Hồ Tây không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông, quanh năm dập dềnh, lượn sóng mà còn mang vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc hồng thơm ngát của hoa sen, sắc tím của hoa bằng lăng hay vẻ rực rỡ của những cánh phượng hồng mỗi độ hè về. (Lam Phương, Hồ Tây, nét chấm phá đầy thi vị giữa lòng thủ đô) Phương pháp giải: Em nhớ lại về kết từ và cặp kết từ. Lời giải chi tiết: - Kết từ: bởi, hay. - Cặp kết từ: không chỉ mà còn. II. VIẾT (5,0 điểm) Mùa hè là một bức tranh rực rỡ, được vẽ nên bởi màu đỏ của hoa phượng, âm thanh râm ran của tiếng ve cùng với những ước mơ, dự định của các cô cậu học trò, ... Em hãy viết một đoạn văn nói lên những cảm xúc của mình mỗi khi mùa hè đến. Phương pháp giải: Em đọc kĩ đề bài và xác định bố cục, nội dung và hình thức. - Cấu trúc và nội dung: + Mở đoạn: Giới thiệu cảm xúc của em mỗi khi mùa hè đến. + Thân đoạn: Nêu những điều khiến em có những cảm xúc đo với mùa hè (cảnh vật, hoạt động, kỉ niệm, bạn bè, ...) + Kết đoạn: Nêu cảm nghĩ, mong ước của em với mùa hè. - Hình thức, dung lượng, diễn đạt: + Đảm bảo hình thức của một đoạn văn. + Đoạn văn có bố cục rõ ràng. + Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa để làm bài viết sinh động Lời giải chi tiết: Bài tham khảo 1: Mỗi khi mùa hè đến, em lại cảm thấy vừa háo hức vừa bồi hồi. Hoa phượng nở đỏ rực cả góc sân trường như ngọn lửa cháy lên những kỉ niệm tuổi học trò. Tiếng ve râm ran trong vòm lá khiến lòng em xao xuyến, như một bản nhạc quen thuộc báo hiệu thời gian chia tay sắp đến. Em yêu mùa hè vì được nghỉ hè, được đi chơi cùng gia đình và được đọc thật nhiều truyện tranh em yêu thích. Nhưng em cũng buồn vì phải tạm xa thầy cô, bạn bè và mái trường thân yêu. Những kỉ niệm vui buồn ấy khiến mùa hè trở nên thật đặc biệt trong lòng em. Em mong mùa hè nào cũng sẽ thật ý nghĩa và tràn đầy tiếng cười. Bài tham khảo 2: Mùa hè đến, em vui lắm! Sân trường đỏ rực hoa phượng, nhìn như những ngọn lửa nhỏ. Tiếng ve râm ran trên cành cây nghe như một bản nhạc vui nhộn báo hiệu mùa hè đã về. Em thích ngồi dưới gốc cây, nhìn hoa phượng rơi và nghĩ về những ngày nghỉ sắp tới. Em mong được cùng gia đình đi tắm biển và xây lâu đài cát. Em cũng muốn đọc thật nhiều sách để khám phá thêm những điều hay trong cuộc sống. Em mong mùa hè đến thật nhanh để được vui chơi và làm những điều mình thích ĐỀ SỐ 2 ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC VÀO LỚP 6 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2024-2025 THỪA THIÊN HUẾ MÔN: TIẾNG VIỆT TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRI PHƯƠNG Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU, LUYỆN TỪ VÀ CÂU (5,0 điểm) Câu 1 (1,5 điểm). Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: Hội thi bắt đầu bằng việc lấy lửa. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn. Có người leo lên, tụt xuống, lại leo lên.... Khi mang được nén hương xuống, người dự thi được phát ba que diêm để châm vào hương cho cháy thành ngọn lửa. Trong khi đó, những người trong đội, mỗi người một việc. Người thì ngồi vót những thanh tre già thành những chiếc đũa bông. Người thì nhanh tay giã thóc, giần sàng thành gạo, người thì lấy nước và bắt đầu thổi cơm. (Theo Minh Nhương, Tiếng Việt 5, Tập hai, NXB Giáo dục, 2018, tr.83, 84) a) Nội dung chính của đoạn văn là gì? b) Tìm và ghi lại câu ghép có trong đoạn văn trên. Câu 2 (1,0 điểm). Tìm tính từ, động từ có trong các từ sau: cơn mưa, chia sẻ, dịu dàng, sông, chăm chỉ, tính nết, nỗi buồn, giấc ngủ, nở. Câu 3 (1,5 điểm). Xác định bộ phận chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN) trong câu sau: Dưới đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, như chứa lửa, chứa nắng. (Theo Ma Văn Kháng, Tiếng Việt 5, Tập một, NXB Giáo dục, 2016, tr.114) Câu 4 (1,0 điểm). Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận. Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý. (Theo Nguyễn Phan Hách, Tiếng Việt 4, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr.102, 103) a) Các câu trong đoạn văn trên được liên kết với nhau bằng cách nào? Từ nào thể hiện điều đó? b) Ngoài tác dụng liên kết câu, từ vừa tìm được ở câu a còn có tác dụng gì? II. TẬP LÀM VĂN (5,0 điểm) Khi màn đêm mờ ảo lắng dần, để lại khoảng trời hừng sáng, mặt trời từ từ nhô lên tỏa ra những tia sáng đầu tiên từ chân trời xa tít tắp. Ánh sáng nhẹ nhàng xuyên qua kẽ lá làm lung linh những giọt sương còn đọng lại trên từng cành cây, ngọn cỏ. Đó là buổi bình minh mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Từ những kiến thức, kỹ năng đã học cùng với sự quan sát tinh tế của mình, hãy viết bài văn tả lại buổi bình minh trên quê hương em. HƯỚNG DẪN GIẢI I. ĐỌC HIỂU, LUYỆN TỪ VÀ CÂU (5,0 điểm) Câu 1 (1,5 điểm). Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: Hội thi bắt đầu bằng việc lấy lửa. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn. Có người leo lên, tụt xuống, lại leo lên.... Khi mang được nén hương xuống, người dự thi được phát ba que diêm để châm vào hương cho cháy thành ngọn lửa. Trong khi đó, những người trong đội, mỗi người một việc. Người thì ngồi vớt những thanh tre già thành những chiếc đũa bông. Người thì nhanh tay giã thóc, giản sàng thành gạo, người thì lấy nước và bắt đầu thổi cơm. (Theo Minh Nhương, Tiếng Việt 5, Tập hai, NXB Giáo dục, 2018, tr.83, 84) a) Nội dung chính của đoạn văn là gì? b) Tìm và ghi lại câu ghép có trong đoạn văn trên. Phương pháp giải: a) Em dựa vào những hình ảnh được miêu tả trong đoạn văn để khái quát nội dung chính. b) Em phân tích thành phần câu để tìm câu ghép. Lời giải chi tiết: a) Đoạn văn miêu tả việc lấy lửa và chuẩn bị nguyên liệu trước khi bắt đầu thổi cơm. b) Câu ghép trong đoạn văn là: Người thì nhanh tay giã thóc, giản sàng thành gạo, người thì lấy nước và bắt đầu thổi cơm. Câu 2 (1,0 điểm). Tìm tính từ, động từ có trong các từ sau: cơn mưa, chia sẻ, dịu dàng, sông, chăm chỉ, tính nết, nỗi buồn, giấc ngủ, nở. Phương pháp giải: Em dựa vào đặc điểm của tính từ và động từ để xác định. Lời giải chi tiết: - Tính từ: dịu dàng, chăm chỉ. - Động từ: chia sẻ, nở. Câu 3 (1,5 điểm). Xác định bộ phận chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN) trong câu sau: Dưới đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, như chứa lửa, chứa nắng. (Theo Ma Văn Kháng, Tiếng Việt 5, Tập một, NXB Giáo dục, 2016, tr.114) Phương pháp giải: Em nhớ lại cách xác định thành phần câu. Lời giải chi tiết: Dưới đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên (VN) / những chùm thảo quả đỏ chon chót, như chứa lửa, chứa nắng (CN). Câu 4 (1,0 điểm). Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận. Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý. (Theo Nguyễn Phan Hách, Tiếng Việt 4, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr.102, 103) a) Các câu trong đoạn văn trên được liên kết với nhau bằng cách nào? Từ nào thể hiện điều đó? b) Ngoài tác dụng liên kết câu, từ vừa tìm được ở Câu a còn có tác dụng gì? Phương pháp giải: a) Em nhớ lại các cách liên kết câu. b) Em dựa vào nội dung đoạn văn để nêu tác dụng từ vừa tìm được ở câu a. Lời giải chi tiết: a) Các câu trong đoạn văn được liên kết với nhau bằng cách lặp từ ngữ. Từ ngữ được lặp lại là "Thoắt cái". b) Ngoài tác dụng liên kết câu, từ "Thoắt cái" còn có tác dụng nhấn mạnh sự thay đổi bất ngờ của cảnh vật và tạo nhịp điệu nhanh, dồn dập cho đoạn văn, giúp người đọc cảm nhận rõ rệt hơn sự trôi chảy của thời gian. II. TẬP LÀM VĂN (5,0 điểm) Khi màn đêm mờ ảo lắng dần, để lại khoảng trời hửng sáng, mặt trời từ từ nhô lên tỏa ra những tia sáng đầu tiên từ chân trời xa tít tắp. Ánh sáng nhẹ nhàng xuyên qua kẽ lá làm lung linh những giọt sương còn đọng lại trên từng cành cây, ngọn cỏ. Đó là buổi bình minh mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Từ những kiến thức, kỹ năng đã học cùng với sự quan sát tinh tế của mình, hãy viết bài văn tả lại buổi bình minh trên quê hương em. Phương pháp giải: Em lập dàn ý cho bài văn: Mở bài: Giới thiệu cảnh bình minh trên quê hương em Thân bài: Tả cảnh bình minh trên quê hương em a. Tả bao quát cảnh bình minh trên quê hương em - Mặt trời như thế nào? - Con người như thế nào? - Cảnh vật ra sao? b. Tả chi tiết cảnh bình minh trên quê hương em - Cảnh bình minh trên quê hương em lúc mặt trời chưa mọc + Mặt trời chưa lên, bầu trời tối đen + Có vài nhà dậy sớm mở đèn + Tiếng gà gáy vang cả vùng + Có những người đã vác cày ra đồng làm việc + Những người đi làm ca đêm đã về - Cảnh bình minh trên quê hương em lúc mặt trời dần hé sáng + Mặt trời bắt đầu nhô lên + Mọi người ra đồng làm việc + Những con trâu con bò cũng đi theo + Những đứa trẻ đi học trên đường ríu tít nói chuyện - Cảnh bình minh trên quê hương em lúc mặt trời sáng hẳn + Mặt trời lên cao, nắng gắt hơn + Mồ hôi lã chã trên áo người nông dân + Những chú trâu được nghỉ ngơi gặm cỏ. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về cảnh bình minh vừa tả. Lời giải chi tiết: Bài tham khảo: Chiều hôm qua, cả nhà em cùng nhau về quê thăm ông bà ngoại. Lúc đến nơi, trời đã nhá nhem tối khiến em không thể quan sát được cảnh vật. Vì vậy, sáng nay em đã dậy từ sớm, để có thể ngắm hết được vẻ đẹp của quê hương lúc bình minh. Lúc này, trời vừa hửng sáng. Bầu không khí vẫn còn đọng lại chút mơ màng của giấc ngủ say. Mặt trời vừa mới đủng đỉnh nhô lên từ dãy núi phía sau, sau tiếng gáy dài của mấy chú gà trống ở trong xóm. Từng tia sáng đầu tiên bắt đầu chiếu xuống mặt đất. Lúc này, ánh sáng mặt trời vẫn mang màu đỏ rực - một màu đỏ tươi mới và ấm áp. Vầng sáng đỏ cam ấy nhuộm đẫm cả bầu trời, khiến cỏ cây, nhà cửa, đường sá cũng chuyển màu theo. Nhìn xung quanh, em như đang được tắm mình trong một thế giới cổ tích kì diệu vậy. Nhưng đó cũng chỉ là trong chốc lát mà thôi. Thoáng cái, mặt trời dần leo lên trên cao hơn. Những tia sáng cũng dần trở về màu trong trắng quen thuộc. Cảnh vật cũng theo đó mà hiện ra rõ ràng hơn. Trên cao, bầu trời mùa hạ ở quê thật cao và rộng. Em có thể nhìn thấy rõ từng mảng trời xanh tươi, từng đám mây trắng bụ bẫm trôi lững lờ. Nó khác với bầu trời có chút nặng nề và xám xịt ở thành phố. Xung quanh em, là một bầu không khí mát mẻ và trong lành. Nhắm mắt lại, hít một hơi tràn lồng ngực, em ngửi được mùi thơm ngọt của những giọt sương trong, ngửi được hương bùi bùi của cỏ cây trong vườn, và ngửi được cả mùi ngai ngái của đất ven ao, của rơm bị thấm đẫm hơi nước. Chao ôi, thật là thư giãn. Đứng đấy, em còn lắng nghe được tiếng hót thánh thót của mấy chú chim chẳng biết tên đang chuyền từ cành này sang cây nọ. Nghe được tiếng mấy chú gà chiếp chiếp đi vòng quanh sao vườn. Nghe được tiếng chó sủa những người dậy sớm ra thăm đồng. Nghe được cả âm thanh mọi người lục đục thức dậy chuẩn bị cho ngày mới. Lúc này, ánh nắng đã rõ màu hơn. Chúng trải lên khắp nơi một màu vàng ấm áp. Cùng những cơn gió mát rười rượi, chúng sưởi ấm trần gian, xua đi chút se lạnh của màn đêm còn đọng lại. Sự yên tĩnh lúc sớm cũng dần được thay thế bởi sự nhộn nhịp, vui tươi của cuộc sống ngày thường. Người thì quét nhà dọn sân, người thì nấu nước chuẩn bị bữa sáng, người thì phơi đồ. Ai cũng tất bật vội vã để kịp ra đồng, đi làm, đi học Đó chính là một buổi bình minh trên quê hương em đó. Tuy mộc mạc, giản dị nhưng rất đỗi thân thương! ĐỀ SỐ 3 ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC VÀO LỚP 6 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2023-2024 THỪA THIÊN HUẾ MÔN: TIẾNG VIỆT TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRI PHƯƠNG Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU, LUYỆN TỪ VÀ CÂU (5,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: Lăng của các vua Hùng kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh xanh. Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp. Bên phải là đỉnh Ba Vì vòi vọi, nơi Mị Nương - con gái vua Hùng Vương thứ 18 - theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao. Dãy Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững chắn ngang bên trái đỡ lấy mây trời cuồn cuộn. Phía xa xa là núi Sóc Sơn, nơi in dấu chân ngựa sắt Phù Đổng, người có công giúp Hùng Vương đánh thắng giặc Ân xâm lược. Trước mặt là Ngã Ba Hạc, nơi gặp gỡ giữa ba dòng sông lớn tháng năm mải miết đắp bồi phù sa cho đồng bằng xanh mát. (Theo Đoàn Minh Tuấn, Tiếng Việt 5, tập hai, NXB Giáo dục, 2009, tr.68) a) Đoạn văn miêu tả gì? Nội dung đoạn văn gợi cho em nhớ đến một số truyền thuyết về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, hãy nêu tên một truyền thuyết mà em biết. b) Tại sao các từ chỉ tên người, tên địa lý như: vua Hùng, đền Thượng, Ba Vì, Mị Nương được viết hoa? c) Câu văn nào có sử dụng hình ảnh so sánh khi miêu tả sự vật? Câu 2 (2,0 điểm). Tìm những từ láy có trong đoạn văn được trích ở Câu 1 rồi đặt một câu có sử dụng ít nhất một từ trong số những từ láy ấy. Câu 3 (1,0 điểm). Xác định chủ ngữ (CN) và vị ngữ (VN) của câu: “Lăng của các vua Hùng kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh xanh.” II. TẬP LÀM VĂN (5,0 điểm) Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la Áo xanh sông mặc như là mới may Chiều trôi thơ thẩn áng mây Cài lên màu áo hay hãy ráng vàng. (Nguyễn Trọng Tạo, Tiếng Việt 4, Tập hai, NXB Giáo dục, 2009, tr.118) Dòng sông trong đoạn thơ trên được tác giả miêu tả với những hình ảnh rất đẹp, rất sinh động, thể hiện sự quan sát tinh tế, nhạy bén, linh hoạt. Muốn bài văn tả cảnh hay, có cần quan sát thật kỹ cảnh vật vào những thời điểm khác nhau, thấy được sự nét riêng, em quan sát thay đổi của cảnh vật theo thời gian như thế nào rồi miêu tả lại. Những kỹ năng ấy em đã được thực hành luyện tập trong phần Tập làm văn của môn Tiếng Việt lớp 5. Vận dụng kỹ năng đã học, hãy viết bài văn tả một cảnh đẹp của quê hương mà em yêu thích nhất. HƯỚNG DẪN GIẢI I. ĐỌC HIỂU, LUYỆN TỪ VÀ CÂU (5,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) a) - Đoạn văn trên miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên xung quanh đền Hùng. - Nội dung đoạn văn gợi em nhớ đến truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh. b) Các từ chỉ tên người, tên địa lý như vua Hùng, đền Thượng, Ba Vì, Mị Nương, được viết hoa vì đây là những danh từ riêng. Danh từ riêng dùng để chỉ tên các sự vật, hiện tượng, địa danh, hay nhân vật cụ thể trong lịch sử, văn hóa, xã hội, vì vậy chúng phải được viết hoa để phân biệt với các danh từ chung và thể hiện sự tôn trọng đối với những đối tượng đó. c) Câu có hình ảnh so sánh khi miêu tra sự vật: Dãy Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững chắn ngang bên trái đỡ lấy mây trời cuồn cuộn. Câu 2 (1,0 điểm) - Những từ láy có trong đoạn văn là: xanh xanh, vòi vọi, sừng sững, cuồn cuộn, xa xa. - Đặt câu: + Đỉnh núi cao vòi vọi trông như một ngọn tháp khổng lồ vươn lên trời. + Rừng cây xanh xanh trải dài ngút tầm mắt. + Dòng sông cuồn cuộn chảy, cuốn theo từng mảng bèo xanh, tạo nên cảnh tượng rất sinh động. Câu 3 (1,0 điểm) Lăng của các vua Hùng// kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh xanh. CN VN II. TẬP LÀM VĂN (5,0 điểm) Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la Áo xanh sông mặc như là mới may Chiều trôi thơ thẩn áng mây Cài lên màu áo hay hãy ráng vàng. (Nguyễn Trọng Tạo, Tiếng Việt 4, Tập hai, NXB Giáo dục, 2009, tr.118) Dòng sông trong đoạn thơ trên được tác giả miêu tả với những hình ảnh rất đẹp, rất sinh động, thể hiện sự quan sát tinh tế, nhạy bén, linh hoạt. Muốn bài văn tả cảnh hay, có cần quan sát thật kỹ cảnh vật vào những thời điểm khác nhau, thấy được sự nét riêng, em quan sát thay đổi của cảnh vật theo thời gian như thế nào rồi miêu tả lại. Những kỹ năng ấy em đã được thực hành luyện tập trong phần Tập làm văn của môn Tiếng Việt lớp 5. Vận dụng kỹ năng đã học, hãy viết bài văn tả một cảnh đẹp của quê hương mà em yêu thích nhất. Lời giải - Về hình thức: Bài viết cần đảm bảo bố cục của 1 bài văn gồm mở bài, thân bài, kết bài. Trình bày rõ ràng, dễ hiểu. - Về nội dung: Bài viết cần đảm bảo đủ 2 ý sau: + Vẻ đẹp của cảnh đẹp quê hương
File đính kèm:
4_de_thi_vao_lop_6_mon_tieng_viet_truong_nguyen_tri_phuong_h.docx

